Bảng quảng cáo
PHỔ BIẾN THÔNG TIN KHCN
Dự án “Ứng dụng kỹ thuật sản xuất giống và phát triển mô hình nuôi thương phẩm lươn đồng (Monopterus albus, Zuiew, 1793)”
 
ThS. Nguyễn Thị Thùy Lam làm chủ nhiệm và Chi cục Thủy sản tỉnh Hậu Giang chủ trì thực hiện nhiệm vụ.
 
2017
 
Thủy sản
 
Chi cục Thủy sản tỉnh Hậu Giang
 
 
 
Đạt
 

Mục tiêu của dự án nhằm chuyển giao quy trình sản xuất giống bằng phương pháp bán nhân tạo và nuôi Lươn đồng thương phẩm cho người sản xuất để chủ động sản xuất con giống cung cấp cho người nuôi, nhằm đa dạng hóa đối tượng thủy sản, nâng cao chất lượng giống và giá trị sản phẩm, góp phần phát triển sản xuất hiệu quả và bền vững; qua phân tích điều kiện thực tế của các mô hình đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh Hậu Giang so với quy trình chuyển giao từ An Giang, dự án cần phát triển mới ở hình thức nuôi Lươn thương phẩm không bùn (dễ chăm sóc quản lý, ít tốn công, giảm chi phí…); Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mới làm cơ sở cho việc khuyến cáo nông dân sử dụng con giống bán nhân tạo để nuôi thương phẩm, hạn chế khai thác tận thu, tận diệt nguồn Lươn ngoài tự nhiên để góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Qua triển khai nhóm thực hiện đã đưa ra được những kết quả nghiên cứu quan trọng như sau:

- Đối với các mô hình sản xuất giống Lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo cho thấy:

+ Các yếu tố môi trường bể sinh sản: nhiệt độ dao động từ 28 ± 0,970C đến 28,25 ± 0,860C vào buổi sáng, từ 29,59 ± 1,220C đến 29,75 ± 0,860C vào buổi chiều. pH các bể dao động từ 7,12 ± 0,140C đến 7,17 ± 0,160C vào buổi sáng và 7,45 ± 0,170C đến 7,58 ± 0,250C vào buổi chiều.

+ Các yếu tố môi trường giai đoạn ương: nhiệt độ dao động trong khoảng 27,35 ± 0,510C đến 27,66 ± 0,360C vào buổi sáng và 28,41 ± 0,640C đến 28,6 ± 0,490C vào buổi chiều. pH dao động trong khoảng 7,15 ± 0,120C đến 7,24 ± 0,160C vào buổi sáng và 7,48 ± 0,150C đến 7,55 ± 0,190C vào buổi chiều.

+ Tỷ lệ thành thục đạt 53 - 65%, tỷ lệ nở đạt 63 - 81%, tỷ lệ sống giai đoạn bột - hương là 62 - 85%, tỷ lệ sống giai đoạn hương - giống là 64 - 81%, số lượng Lươn giống thu được từ 9.659 - 11.052 con/24m2.

+ Mùa vụ sinh sản của Lươn từ tháng 2 - 10 dương lịch.

+ Hiệu quả kinh tế của mô hình: lợi nhuận từ 19,6 đến 26,4 triệu đồng/24m2, tỷ suất lợi nhuận đạt từ 104 - 148%.

+ Giá thành sản xuất Lươn giống từ 1.615 - 1.962 đ/con.

- Đối với mô hình nuôi Lươn đồng thương phẩm cho thấy:

+ Kết quả mô hình nuôi Lươn đồng thương phẩm bằng 50% thức ăn công nghiệp + 50% thức ăn tươi sống, tỷ lệ sống đạt 77 ± 16,26%, FCR là 3,51 ± 0,16, sản lượng đạt 179,35kg, lợi nhuận là 8,251 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận đạt 42,94%.

+ Kết quả mô hình nuôi Lươn đồng thương phẩm bằng thức ăn tươi sống, tỷ lệ sống đạt 82 ± 3,51%, FCR là 6,83 ± 0,93, sản lượng đạt 181,53kg, lợi nhuận là 8,723 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận đạt 38,33%.

Như vậy, có thể sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp (>40% đạm) để nuôi thương phẩm lươn đồng, cho tăng trưởng và hiệu quả kinh tế cao, chủ động được nguồn thức ăn và hạn chế ô nhiễm môi trường.
 
NOFILE Download
 

Back !

Thống kê truy cập
Hiện có 23 khách Trực tuyến