Tên đề tài:
Đánh giá độc tính một số chất thải điển hình tại Tp.HCM và đề xuất chuơng trình giám sát tổng hợp đối với các nguồn thải này phục vụ quản lý môi trường
Chủ nhiệm:
PGS.TS. Đỗ Hồng Lan Chi
Cơ quan chủ trì:
Viện Môi trường và Tài nguyên
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
9 Tài nguyên - Môi trường
Thời gian bắt đầu:
Thời gian kết thúc:
2004
Tóm tắt:
Tóm tắt kết quả: Tại Tp.HCM, các nghiên cứu về ô nhiễm nước mặt và nước thải công nghiệp, đô thị mang lại sự giảm sút chất luợng môi trường đã được nghiên cứu khá nhiều. Tuy nhiên, nguy cơ gây độc của một số chất thải điển hình thì chưa được nghiên cứu nhiều hoặc hầu như chưa có. Nghiên cứu này sẽ thực hiện các đánh giá ban đầu về nguy cơ đối với môi trường của các lọai chất thải điển hình, bằng cách áp dụng các thử nghiệm độc học và các phân tích ô nhiễm vi lượng và đại lượng chọn lọc. Nơi có chất thải điển hình thứ nhất là bãi thải bùn hầm tự họai và nhà máy làm phân ủ. Tp.HCM không có trạm xử lý nước thải tập trung. Do vậy, nước thải sinh hoạt được xử lý trong từng hộ dân bởi hầm tự họai. Các chất khó phân hủy sinh học được tích tụ trong bùn hầm tự họai mà bùn này sẽ được lấy ra sau những thời gian nhất định mỗi 3-5 năm. Trại bãi thải này, bùn hầm tự họai được sản xuất thành phân ủ thông qua một quá trình khử nước và làm giàu carbon. Sự khử nước được thực hiện bằng cách cho bùn đi qua các bể chứa vách đất mà từ đây nước rỉ sẽ đi vào một số kênh nhỏ và thải vào môi trường. Mẫu lấy từ kênh này gây độc đối với D.magma. Hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu vượt tiêu chuẩn nước thải của Thụy Sỹ. Mẫu lấy từ kênh cách bãi thải một con đường không gây độc và có hàm lượng kim loại nặng ít hơn. Quá trình làm phân ủ không trải qua khoáng hóa lượng bùn đã làm giàu chất hữu cơ bằng vỏ trấu, cũng có nghĩa không đủ nhiệt độ để phá hủy các mầm bệnh. Một số đề xuất được nêu để cải tiến quá trình làm phân ủ, chất lượng phân ủ và hạn chế nguy cơ của nước rỉ đối với môi trường; phân tích kim lọai nặng trong phân ủ để kiểm soát chúng; nước rỉ từ bãi thải này cần được tập trung trong các hồ sinh học để xử lý. Nơi có chất thải điển hình thứ hai là bãi rác Đông Thạnh, nơi tập trung các loại rác sinh hoạt, công nghiệp và bệnh viện của thành phố. Các mẫu từ các hồ chứa nước rỉ, kênh dẫn nước rỉ và kênh thải ra nguồn tiếp nhận đều gây độc đối với sinh vật thí nghiệm (D.magna, C.cornuta và V.fisheri). Hàm lượng kim loại nặng không cao lắm và ammonia được giả thiết như một tác nhân gây độc tính, nhưng chỉ ammonia có thể không đủ để giải thích độc tính cấp quá cao đối với hệ sinh thái. Do vậy, các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện cho lọai chất thải này. Độc tính cao của mẫu công với lượng lớn nước rỉ từ bãi rác làm cho vấn đề xử lý nước rỉ trở nên cấp bách. Các vấn đề về chống thấm cho bãi rác cũng được bàn luận, kể cả về việc chăm sóc sức khỏe và an toàn lao động. Nghiên cứu này khẳng định C.cornuta nhạy cảm hơn D.magna. C.cornuta chứng tỏ là một phương pháp tốt có thể sử dụng để giám sát sự phục hồi/ quá trình xử lý các lọai chất thải điển hình.
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: