Tên đề tài:
Phân vùng điều tra diễn biến mặn ĐBSCL, nguồn xâm nhập mặn, mạng lưới đo mặn năm 2004
Chủ nhiệm:
Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam
Cơ quan chủ trì:
Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam
Cấp nhiệm vụ:
5 Bộ
Lĩnh vực:
9 Tài nguyên - Môi trường
Thời gian bắt đầu:
2004
Thời gian kết thúc:
2004
Tóm tắt:
1/ Phân vùng điều tra theo dõi thường xuyên diễn biến mặn dựa vào điều kiện tự nhiên của từng vùng hợp lý. 2/ Xác định rõ các nguồn lan truyền mặn vào từng vùng, làm cơ sở cho việc lập mạng lưới trạm đo mặn ở mỗi vùng đúng vị trí thiết yếu để giám sát diễn biến mặn theo thời gian và không gian, mùa khô kiệt năm 2004 3/ Đã xác định được nồng độ mặn trên hệ thống kênh rạch tại mỗi vị trí trạm đo về trị số lớn nhất và nhỏ nhất trong ngày, kéo dài từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2004 ở 4 vùng trọng điểm mặn ĐBSCL. 4/ Kết quả đo và diễn biến xâm nhập mặn trên hệ thống kênh rạch từng vùng được phân tích, đánh gía, khái quát vẽ các đường trị mặn 1 g/l, 2 g/l, và 4 g/l trong từng tháng (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2004). Liên kết số liệu đo giữa các vùng, vẽ các đường đẳng trị mặn trên phạm vi toàn đồng bằng từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2004. 5/ Làm rõ diễn biến mặn theo thời gian và không gian ở mỗi vùng và toàn đồng bằng và mối quan hệ chi phối sự lan truyền mặn trong mỗi vùng, ở mỗi tháng cụ thể. 6/ Xác định được diện tích lan truyền mặn theo thời gian vào hệ thống kênh rạch nội đồng mỗi vùng và phạm vi toàn đồng bằng năm 2004. 7/ Hiện trạng sản xuất và sử dụng vùng đất-nước nhiễm mặn trong những năm gần đây ở ĐBSCL. 8/ Những kiến nghị cần thiết trong việc chuyển đổi sản xuất trên những khu vực lan truyền mặn. 9/ Số liệu đo mặn kéo dài 6 tháng ở mạng lưới trạm đo ĐBSCL năm 2004, lập thành bảng biểu tiện cho tra cứu, sử dụng. 10/ Đây là một tài liệu cơ bản, phục vụ quy hoạch phát triển tài nguyên nước ở ĐBSCL. Diễn tả thực trạng sự lan truyền mặn đang diễn ra, kết quả đo đạc năm 2004 và những năm gần đây là cơ sở lập dự báo lan truyền mặn (đã thực hiện tháng 12 năm 2004) cho năm 2005 từ tháng 1 đến tháng 6 chuyển tới các địa phương: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang phục vụ lập kế hoạch sản xuất và quản lý khai thác vùng ven biển nhiễm mặn tránh những rủi ro có thể xảy ra đối với sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt của nhân dân Mục tiêu: Mục tiêu phát triển để khai thác thế mạnh ở 8 tỉnh ven biển có cả tài nguyên nước ngọt, mặn, lợ, các cơ cấu sản xuất lúa (hai vụ lúa hoặc hai lúa một màu), tôm (một vụ hoặc hai vụ) và tôm-lúa đang phát triển mạnh mẽ trong vùng ĐBSCL. Mâu thuẫn chính trong việc phát triển sản xuất là về yêu cầu độ mặn khác nhau cho lúa và tôm: lúa cần nước ngọt nhưng tôm lại cần nước lợ, mà vùng tranh chấp chính sẽ là những khu vực sản xuất lúa 2 vụ, hoặc một vụ chưa ổn định và có tiềm năng về sản xuất tôm. Để hệ thống sản xuất lúa, lúa tôm và chuyên tôm bền vững cả về các mặt môi trường sinh thái, cần phải cấp bách nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu nông lâm ngư nghiệp, đặc biệt ở các khu vực tranh chấp giữa các khả năng lúa-tôm-rừng. Rừng ngập mặn phòng hộ đang phải tranh chấp với đất phát triển vuông tôm. Phần tranh chấp lúa-tôm khoảng 120.000 ha trong một số vùng ngọt hóa, tập trung ở vùng 3 dự án Quản Lộ-Phụng Hiệp khoảng 90 ha và dự án Nam Măng Thít và một số dự án khác. Để đảm bảo sự phát triển bền vững vùng ven biển nguồn nước nhiễm mặn, cải thiện dần môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước cần đa dạng hóa nền kinh tế, xóa bỏ thế độc canh; Đa dạng hóa sinh thái sẽ lợi dụng được thế mạnh của từng vùng, tiết kiệm trước hết là tài nguyên nước, sử dụng nguồn nước ngọt, mặn, lợ hợp lý có hiệu quả cao nhất. Nâng cao đời sống nhân dân, giảm thiểu các rủi ro do thiên tai và ảnh hưởng xấu của thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để biến lợi thế về tiềm năng thành lợi thế kinh tế trước thị trường luôn biến đổi, thì quy hoạch các vùng nên theo một hướng mở, quy hoạch mang tính định hướng, không phải là mệnh lệnh cứng nhắc. Mặt khác cần đa dạng hóa các mô hình canh tác thì mới khai thác được tiềm năng, đạt hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích. Có thể đơn giản là để nông dân tự quyết định trên mảnh đất của mình theo định hướng, còn nhà nước hỗ trợ tối đa hệ thống các công trình thủy lợi, bởi không có công trình thủy lợi không thể nói đến chuyển đổi cơ cấu một cách bền vững Kết quả đạt được: Mặc dù thời tiết khí hậu có những thay đổi bất thường ngay từ thời kỳ chuyển mùa (từ cuối mùa lũ năm 2003) sang mùa khô năm 2004; Đặc biệt vào những tháng khô kiệt có những khó khăn về nguồn nước tưới cho canh tác nông nghiệp nhưng cùng với các biện pháp khắc phục khác, biện pháp thủy lợi đã tạo điều kiện quyết định để diện tích gieo sạ ở ĐBSCL đảm bảo kế hoạch. Nhờ có hệ thống công trình thủy lợi, cống ngăn mặn cùng với đê biển, đê sông ngăn mặn được đầu tư xây dựng trong những năm gần đây, nhất là trong giai đoạn 1998-2003. Dự án ngọt hóa Gò Công tỉnh Tiền Giang, các cống ngăn mặn: Rạch Chanh, Bắc Đông, Bình Tâm, Kỳ Son…thuộc tỉnh Long An có tác dụng ngăn mặn tốt. Hệ thống đê biển ngăn mặn tỉnh Trà Vinh, cống đập ngăn mặn Ba Lai tỉnh Bến Tre làm thay đổi hẳn môi trường nước phục vụ tốt cho cho dân sinh. Hệ thống thoát lũ mới như T4, T5, T6 tỉnh Kiên Giang đang phát huy tác dụng đảm nhận vai trò chính đưa lũ ra biển Tây. Hệ thống thoát lũ mới không chỉ phát huy tác dụng trong mùa lũ mà còn có giá trị trong mùa khô đưa nước ngọt về một số khu vực của kênh T4, T5, T6 góp phần ngăn mặn, giảm thời gian xâm nhập mặn. Các cống ngăn mặn của hệ thống công trình Quản Lộ-Phụng Hiệp bắt đầu xây dựng năm 1992 và hoàn thành dần từ Đông sang Tây trong thời gian 1994-2000 thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đã và đang phát huy hiệu quả ngăn mặn giữ ngọt, khi chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm giữ vai trò điều tiết nguồn nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, như đã nêu trên diễn biến mặn phức tạp theo thời gian và không gian, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khí tượng, thủy văn, tác động của con người như gia tăng diện tích canh tác, nhu cầu sử dụng nước ngọt ngày càng tăng; Để có những đánh giá diễn biến mặn ngay cả trong trường hợp mặn đột biến nghiêm trọng, xác định nồng độ mặn ở 4 vùng thuộc dải đất ven biển ĐBSCL chính xác; Định hướng những công trình ngăn mặn phù hợp từng nơi, từng giai đoạn phục vụ khai thác sử dụng hợp lý có hiệu quả, bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái vùng đất ven biển đầy tiềm năng góp phần cải thiện và năng cao đời sống người dân trong vùng
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: