Tên đề tài:
Sinh sản nhân tạo cá tra nghệ
Chủ nhiệm:
Th.s Vương Học Vinh
Cơ quan chủ trì:
Trường ĐH An Giang
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
2 Thủy sản
Thời gian bắt đầu:
9/2010
Thời gian kết thúc:
7/2011
Tóm tắt:
Theo hệ thống phân loại cá ở ĐBSCL, trong họ Schilbeidae (cá tra) với 11 loài được xác định, giống cá tra Pangasius có chín loài với năm loài có giá trị kinh tế. Năm 2000, hai nhà khoa học Pouyaud và Teugel xác định thêm ba loài mới, thuộc họ Pangasius, trong đó có loài Pangasius Kunyit. Do vậy, cá tra nghệ (Pangasius kunyit) là loài mới và chưa được nghiên cứu trong hệ thống phân loại này. Ở An Giang, cá bông lau nghệ là loài đặc sản, thịt ngon, giá cao và năm 2001, đã được cho sinh sản nhân tạo thành công. Song, những nghiên cứu về đặc điểm sinh học (hình thái, dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản) của nó còn hạn chế. Vì thế, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng hoàn chỉnh quy trình sinh sản nhân tạo và sản xuất giống cá tra nghệ (Pangasius kunyit)” được thực hiện, sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đa dạng hóa các loài nuôi và gia tăng sản lượng thủy sản. Từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành khảo sát một số hình thái của cá tra nghệ (Pangasius kunyit): 2 đặc điểm bên ngoài có thể phân biệt với cá da trơn khác là trên hai nắp mang cá có vết hình rẽ quạt và vi lưng cá có tia vi cứng luôn dựng thẳng đứng, không nằm sát xuống mặt lưng ngay cả khi dùng tay áp sát vào. Còn bên trong, hình dạng miệng, cấu tạo răng, ruột, dạ dày... cho thấy cá tra nghệ thích nghi tốt ở tầng giữa và tầng đáy, có tập tính ăn tạp thiên về động vật. Qua nghiên cứu sự biến đổi hình thể của bong bóng khí, bước đầu có thể kết luận cá tra nghệ là một loài cá rộng muối. Mặc dù, da và vi cá có màu vàng, nhưng thịt cá lại trắng. Ở quy trình sinh sản nhân tạo, thực hiện 4 đợt trên 40 con cá bố mẹ: Khối lượng cá tham gia sinh sản (kg) 2,52 ± 0,56; hệ số thành thục cá cái (%) 8,39 ± 3,686; tỉ lệ thụ tinh (%) 89,64 ± 17,75; tỉ lệ nở (%) 68,10 ± 20,13. Nghiên cứu ương cá bột lên giống, tỉ lệ sống cá ở 30 ngày tuổi (%), ương trong bồn composit là 54,7 ± 21,9. Trong nội dung này, đề tài thực hiện một chuyên đề “Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống cá tra nghệ ương từ bột đến 30 ngày tuổi”, kết quả ở 4 nghiệm thức, tỉ lệ sống trung bình thấp nhất 30,2% (cho ăn bột đậu nành + lòng đỏ trứng vịt) và cao nhất 85,5% (cho ăn moina). Với thử nghiệm khả năng thích nghi nồng độ muối ở 0‰, 3‰, 6‰, 9‰ và 12‰ của cá tra nghệ giống, đề tài đã hoàn thành nghiên cứu ở giai đoạn 1 (ương cá bột từ 1 đến 30 ngày tuổi): Thí nghiệm được bố trí trong bồn composite có dung tích 0,5 m3, mật độ 300 cá bột/bồn (số lần lập lại r = 3; số nghiệm thức t = 3 (0‰, 3‰, 6‰). Giai đoạn 2 (ương cá bột từ 30 đến 60 ngày tuổi): Thí nghiệm được bố trí trong bồn composite có dung tích 0,5 m3, mật độ 100 cá hương/bồn (số lần lập lại r = 3; số nghiệm thức t = 5 (0‰, 3‰, 6‰, 9‰ và 12‰). Tỉ lệ sống của cá giống đến 30 ngày tuổi (0‰ - 6‰ là 29,56 ± 8,6 - 69,94 ± 7,55) và 60 ngày tuổi (0‰ - 12‰ là 60,33 ± 20,71 - 94,33 ± 4,93). Từ thử nghiệm này, đề tài còn nghiên cứu thêm phần nâng dần độ mặn trong quá trình ương nuôi (2 ngày nâng 1‰), cho thấy cá tra nghệ thích nghi (cá ăn thức ăn và phát triển bình thường) đến độ mặn 27‰.
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: