Tên đề tài:
Phục tráng và xây dựng qui trình canh tác các giống Nếp phổ biến tại các huyện phía nam tỉnh Long An
Chủ nhiệm:
thạc sĩ Huỳnh Trấn Quốc
Cơ quan chủ trì:
viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
1 Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thời gian bắt đầu:
Thời gian kết thúc:
4/2009
Tóm tắt:
Các dòng Lúa Nếp phổ biến trong sản xuất ở các huyện phía nam OM84, OM85, IR29 và trồng tập trung trên các vùng sản xuất chuyên biệt. Qua thời gian dài sản xuất, các dòng Nếp này đã thích nghi với điều kiện sản xuất và thị trường của địa phương. Hệ thống sản xuất và thương mãi lúa nếp đã hình thành song song đối với việc phát triển vùng chuyên canh nếp. Kết quả : Điều tra : - Sản xuất lúa nếp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân ở cả 3 vụ đông xuân, hè thu, thu đông. - Hiệu quả kinh tế sản xuất giống nếp OM84 và OM85 tương đương nhau. - Độ thuần giống trên lúa nếp chưa cao, 30-40% số hộ có ruộng lúa nếp có độ thuần giống dưới 90%. - Đạo ôn là bệnh xuất hiện phổ biến trên lúa nếp, 60-90% số hộ (tùy vụ) có ruộng sản xuất lúa nếp bị bệnh đạo ôn. - Chi phí bảo vệ thực vật trên lúa nếp cao, đặc biệt là chi phí cho thuốc phòng trị bệnh (đạo ôn, vàng lá) chiếm 41 - 45 % trong tổng chi phí bảo vệ thực vật. - Mật độ gieo sạ lúa nếp còn khá cao (165 -180 kg/ha). Dòng thuần : - Các giống lúa nếp phục tráng có sự phân ly và lẫn tạp chất cao. - Qua quá trình nghiên cứu, lọc thuần, phục tráng và so sánh các dòng, các dòng lúa nếp sau đã được tuyển chọn: OM84-1, OM84-2, OM84-8, OM85-6, OM85-9. Hợp phần kỹ thuật và mô hình : - Trên nhóm đất phù sa phèn, lượng phân N thích hợp và có hiệu quả cao là 90N cho cả 2 vụ hè thu, đông xuân đối với giống OM85 trên đất phù sa 3 vụ lúa, lượng N có hiệu quả kinh tế là 90N và trong vụ đông xuân biến động từ 90-120N là có hiệu quả kinh tế đối với giống OM84. Tình hình bệnh đạo ôn trên 2 giống lúa OM84 và OM85 biến động khác nhau với cùng mức phân đạm. Lượng N không có ảnh hưởng đối với các các tính chất xay chà, hàm lượng amylose đối với giống OM84 trên đất phù sa trong cả 2 vụ hè thu và đông xuân. Trên nhóm đất phù sa chua phèn, lượng đạm cao (120-150N) trong vụ hè thu làm giảm hàm lượng amylose đối với giống OM85, nhưng vụ đông xuân thì không có tác động. - Với mật độ sạ 90 kg và 120 kg giống/ha, áp dụng phương pháp sạ hàng, cho thấy tỉ lệ đổ ngã thấp, năng suất trên 6 tấn/ha. Cây lúa có thể chống chịu sâu, bệnh khá tốt và có chỉ số bệnh và bệnh đạo ôn trên lá thấp. - Năng suất lúa vụ hè thu của giống OM84 qua các thời điểm thu hoạch 105, 110, 115 ngày sau khi sạ không khác nhau, nhưng tỉ lệ gạo nguyên cao nhất ở thời điểm thu hoạch 105 -110 ngày sau khi sạ (>60%). Trong vụ đông xuân thời điểm thu hoạch 105 -110 ngày có năng suất cao, hàm lượng amylose thấp. - Lúa nếp sau thu hoạch được sấy có tỉ lệ hạt đục cao và khác biệt có ý nghĩa so với phơi. Phẩm chất lúa nếp sấy không khác biệt so với lúa phơi. - Mô hình áp dụng kỹ thuật có kết quả: giảm lượng giống sử dụng, giảm lượng phân N, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật và tăng năng suất rõ rệt trong 2 vụ đông xuân và hè thu trên đất phù sa chua canh tác 2 và 3 vụ lúa /năm. Lãi ròng của mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật tăng từ 10 – 15 %, giá thành sản xuất giảm 17 – 20 % so với đối chứng . Kiến nghị : - Nhân các dòng tốt OM84-1, OM84-2, OM84-8 và OM85-9 để phục vụ cho nhu cầu sản xuất giống của các trạm trại đồng thời cung cấp giống xác nhận cho nông dân trong vùng sản xuất nếp. - Xây dựng các tổ nông dân nhân giống nếp trên các vùng chuyên canh của các huyện phía nam (1 xã có 1 - 2 nhóm nhân giống sản xuất). - Khuyến khích nông dân áp dụng phương pháp 3 giảm 3 tăng trong vùng sản xuất nếp chuyên canh.
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: