Tên đề tài:
Vỗ béo đàn bò trên nguồn thức ăn sẵn có tại huyện Đức Hòa
Chủ nhiệm:
TS. Đoàn Đức Vũ và KS. Trịnh Công Thành
Cơ quan chủ trì:
Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Đức Hòa
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
1 Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thời gian bắt đầu:
Thời gian kết thúc:
2013
Tóm tắt:
Đức Hòa là huyện có truyền thống chăn nuôi bò lâu đời,có ngành chăn nuôi bò phát triển, với tổng đàn khoảng 35 ngàn con, trong đó tỷl ệ bò lai Sind khá cao; có 3.500 con bò sữa, trong đó giống bò lai Sind được nhiều địa phương khác ưa chuộng. Với tổng đàn bò như vậy, việc phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó chú trọng đến khâu vỗ béo là cần thiết và khả thi. Tuy nhiên, giải quyết nguồn thức ăn cho đàn bò là vấn đề cần được quan tâm. Vì thế giải pháp hữu hiệu là trồng cỏ thâm canh và sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò nói chung và trong giai đoạn vỗ béo bò nói riêng đã được áp dụng. Trước đây, người chăn nuôi áp dụng phương thức chăn thả, có bổ sung thức ăn tại chuồng, sử dụng nguồn cỏ tự nhiên và phụ phế phẩm, nhưng tỷ lệ số hộ có vỗ béo bò trước khi bán thịt chỉ chiếm 23,3%; nguyên nhân chủ yếu là phải đầu tư một khoản tiền để mua thức ăn tinh và việc bán bò chưa thể theo một kế hoạch định sẵn, mà thông thường là khi nào cần tiền thì người dân mới bán bò. Để vỗ béo bò thịt, ngoài thức ăn thô cần phải bổ sung một số lượng nhất định thức ăn tinh (khoảng 30% tính trên vật chất khô khẩu phần). Vì thế một giải pháp cần được áp dụng là sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có (cám xay lúa, cám lau gạo, bắp hạt, khô dầu đậu phộng... ) kết hợp với dinh dưỡng của thức ăn tinh để chế biến thành hỗn hợp thức ăn tinh, thay thế thức ăn tinh là cám hỗn hợp mà người chăn nuôi phải mua từ các nhà máy thức ăn gia súc (điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi). Đề tài đã phối hợp 03 công thức có tính khả thi nhất đề người dân áp dụng. Giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn hỗn hợp tự trộn này đạt khoảng 90% vật chất khô, 15% protein thô và 2.400 Kcal năng lượng trao đổi, tương đương với cám hỗn hợp nhà máy sản xuất nhưng giá thành rẻ hơn Nguồn thức ăn thô cho bò ở Đức Hòa chủ yếu là cỏ xanh (cỏ tự nhiên và cỏ trồng ), rơm, thân cây đậu phộng, thân cây bắp sau thu hoạch. Dựa trên nhu cầu dinh dưỡng để vỗ béo bò, đề tài đã xây dựng một số dạng khẩu phần có tính linh hoạt để người chăn nuôi dễ áp dụng gồm các loại thức ăn(cỏ xanh, rơm ủ ure, thân đậu phộng, thân bắp, cám hỗn hợp tự trộn). Từ kết quả nghiên cứu này, đề tài đã xây dựng quy trình vỗ béo bò thịt, đã tổ chức được 06 lớp tập huấn cho nông dân và 02 buổi hội thảo nhân rộng mô hình. Thông qua các buổi tập huấn và hội thảo cho thấy người dân rất quan tâm tìn hiểu và áp dụng kỹ thuật vỗ béo bò nói riêng và chăn nuôi bò hướng thịt nói chung. Qua kết quả xây dựng mô hình, thời gian vỗ béo bòkhoảng 3 tháng, tuổi đưa vào vỗ béo dao động từ 13 – 19 tháng với trọng lượngtừ 245 – 248 kg, tăng trọng bình quân của bò vỗ béo trong thời gian 3 tháng đạt783,8 g/con/ngày, lợi nhuận/ 1 con bò thu được 1.110.000đ. Việc vỗ béo bò bằngcác nguồn thức ăn có sẵn làm tăng chất lượng thịt (tỷ lệ thịt xẻ đạt từ 49,7đến 52,3%; tỷ lệ thịt tinh đạt từ 38,5 đến 40,5%; vật chất khô của thịt daođộng 28,5 – 29,6% ; Protein 20,8 – 21,3% ; chất béo 3,6 – 3,9% ), nhờ đó ngườichăn nuôi có được lợi nhuận cao, thúc đẩy phát triển một ngành chăn nuôi bòthịt mang tính hàng hóa để cung cấp thịt bò cho xã hội, tạo công ăn việc làm vànâng cao đời sống người dân ở vùng nông thôn. Như vậy, có thể khẳng định Đức Hòa là một huyện cónhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển chăn nuôi bò theo hướng sảnxuất hàng hóa, trong đó bò thịt cũng là thế mạnh của huyện. Với việc tận dụngnguồn thức ăn sẵn có cho phép chúng ta tăng quy mô đàn gia súc mà không sợthiếu cỏ vào mùa khô, từ đó có thể tăng quy mô đàn trong từng gia đình cũng nhưcả khu vực. Khi tăng được quy mô đàn kết hợp với kỹ thuật vỗ béo, thu nhập củangười dân từ đàn bò tăng lên sẽ thúc đẩy người dân tăng cường áp dụng các biệnpháp kỹ thuật trong chăn nuôi bò. Vì vậy cần nhân rộng, phát triển ngành nghềnày nhằm mang lại hiệu quả và bền vững trong chăn nuôi bò.
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: