ĐỀ TÀI/DỰ ÁN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tên đề tài:
Khảo sát đa dạng côn trùng nước tại vườn quốc gia Tràm chim, tỉnh Đồng Tháp
Chủ nhiệm:
PGS.TS. Hoàng Đức Huy
Cơ quan chủ trì:
Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
9 Tài nguyên - Môi trường
Thời gian bắt đầu:
2006
Thời gian kết thúc:
2008
Tóm tắt:
Đề tài nghiên cứu đa dạng côn trùng nước đại diện tiêu biểu l nhóm Chuồn chuồn (Bộ Odonata – Insecta) được thực hiện vào 3 mùa: mùa khô (03/2006), giao mùa (06/2006) và mùa mưa (12/2006). Khu vực nghiên cứu được chia thành 3 vùng: vùng ngoài (Kênh, đồng cỏ Năn và lạch gần rừng Tràm), vùng giữa (Kênh, đồng cỏ hỗn giao và lạch) và vùng lõi (Kênh, đồng cỏ Năn và lạch gần rừng Tràm) thuộc khu vực A1, vườn Quốc Gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Phương pháp tiến hành, thu mẫu là định tính và định lượng dựa trên các đường cắt được thiết lập ở 3 vùng khảo sát. Mỗi đường cắt có chiều dài 100m, 3 vị trí thu mẫu/ đường cắt và một ô mẫu có diện tích 2 x 2m2 /vị trí thu mẫu. Việc thu mẫu định tính áp dụng cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành. Còn thu mẫu định lượng áp dụng chỉ ở giai đoạn ấu trùng Chuồn chuồn. Kết quả khảo sát, thu mẫu thu được 12 loài ấu trùng, 25 loài trưởng thành Chuồn chuồn trong cả 3 mùa của năm. Tất cả các loài ấu trùng, trưởng thành Chuồn chuồn thuộc 4 họ: Coenagrionidae, Aeshnidae, Gomphidae và Libellulidae trong 2 bộ phụ Zygoptera và Anisoptera. Họ Libellulidae chiếm số lượng loài ấu trùng và trưởng thành nhiều nhất so với các họ còn lại. Về số lượng cá thể, họ Libellulidae được thu thấp hơn họ Coenagrionidae, thấp nhất trong họ Aeshnidae, Gomphidae cả ở ấu trùng và trưởng thành. Tính đa dạng về ấu trùng Chuồn chuồn trong cả 3 mùa đều cao (Trên 0,8). Tuy có khác biệt giữa 3 mùa nhưng sự khác biệt không quan trọng. Tỉ lệ thành phần loài Chuồn chuồn trưởng thành thấp hơn của chung Việt Nam (Chiếm 11% tổng số lượng loài) và thấp hơn một số khu vực khác thuộc miền Nam Việt Nam. Hầu hết các loài được thu là phổ biến, nhiều loài có phạm vi phân bố rộng về địa lý. Về số lượng loài ấu trùng có sự biến động giữa các vùng không rõ ràng tại sinh cảnh kênh vào mùa khô, giao mùa; Nhưng có sự khác biệt rõ về số lượng loài ấu trùng ở thời điểm mùa mưa so với 2 mùa còn lại. Tại sinh cảnh đồng cỏ có sự biến động rõ ràng giữa các vùng ở cả 3 mùa, cao nhất tại vùng ngoài và thấp nhất tại vùng giữa. Có sự khác biệt quan trọng về số lượng loài ấu trùng Chuồn chuồn giữa kênh và đồng cỏ ở thời điểm giao mùa và mùa mưa. Còn số lượng cá thể ấu trùng Chuồn chuồn không có sự biến động rõ ràng giữa các vùng tại sinh cảnh kênh và đồng cỏ ở ba mùa khảo sát. Tuy nhiên, số lượng cá thể ở sinh cảnh đồng cỏ đều cao hơn so với trên kênh ở hầu hết các vùng trong cả 3 mùa, có sự khác biệt tương đối rõ ràng và quan trọng. Kết quả khảo sát tính tương quan giữa một số chỉ tiêu trong nước tầng mặt như pH, nhiệt độ nước (ToC), Ec, DO, độ đục, BOD5, Fe tổng số, ion Magie-Mg2+ và ion Sulphate-SO42- với số liệu ấu trùng Chuồn chuồn cho thấy, yếu tố pH hay EC là các yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến các yếu tố còn lại trong cả 3 mùa khảo sát. Tuy có ảnh hưởng đến sự phát triển ấu trùng Chuồn chuồn nhưng không rõ ràng, không có tính tương quan. Ngoại trừ trong mùa mưa có tương quan nghịch giữa pH và số số lượng loài và cá thể ấu trùng Chuồn chuồn (R2 = 0,535 và R2 = 0,625).
Báo cáo:
NOFILE
Báo cáo tóm tắt: