Tên đề tài:
Hệ thống rừng-tôm đồng bằng sông cửu long: hiện trạng, nghiên cứu và bảo tồn
Chủ nhiệm:
Bùi Thị Nga
Cơ quan chủ trì:
Trường Đại học Cần Thơ
Cấp nhiệm vụ:
5 Bộ
Lĩnh vực:
9 Tài nguyên - Môi trường
Thời gian bắt đầu:
Thời gian kết thúc:
2007
Tóm tắt:
Nuôi tôm nước lợ là hoạt động kinh tế chủ yếu của các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Hệ thống rừng–tôm đã được áp dụng phổ biến trong vùng. Mặc dù, sản lượng bình quân thấp, nhưng hệ thống rừng – tôm có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển bền vững của nghề nuôi thủy sản ven biển. Diện tích rừng ngập mặn đã bị suy thoái và giảm diện tích từ 186.277 ha vào năm 1953 chỉ còn khoảng 29.534 ha vào năm 1995, do việc khai thác lấy gỗ và chất đốt, lấy đất để canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Mặc dù, những năm gần đây, việc mở rộng diện tích nuôi tôm gia tăng nhanh chóng, tuy nhiên năng suất tôm lại không gia tăng, nhiều vuông tôm bị thất bại hoặc bị giảm năng suất, ví dụ như năng suất của việc nuôi tôm quảng canh từ 100 – 400 kg/ha/năm vào năm 1996 giảm còn 80 – 250 kg/ha/năm vào năm 2000. Nhiều nghiên cứu về hệ thống rừng – tôm đã được thực hiện: nghiên cứu về sinh khối cây đước (Rhizophora spp), hệ sinh thái thủy sinh, đặc tính đất, các chu trình dinh dưỡng sự đa dạng sinh học về hệ động vật trong hệ thống, cũng như là các khía cạnh kinh tế - xã hội; tuy nhiên nhiều kiến thức về sinh thái trong quản lý bền vững hệ thống rừng – tôm vẫn còn hạn chế. Vấn đề thách thức được đặt ra giữa bảo vệ RNM và phát triển bền vững hệ thống rừng – tôm. Do vậy nếu như mở rộng diện tích rừng – tôm cần hết sức chú ý đến vấn đề cải thiện năng suất cho hệ thống. Nghiên cứu những tiến trình chủ đạo của các yếu tố sinh thái quyết định năng suất hệ thống thì thật sự cần thiết, không chỉ bảo tồn hệ thống hiệu quả hơn, mà còn cung cấp thông tin cho người ra quyết định trong phát triển bền vững vùng ven biển ĐBSCL.
Báo cáo:
12_bckh_Bui Thi Nga 96 104.doc
Báo cáo tóm tắt: