ĐỀ TÀI/DỰ ÁN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tên đề tài:
Hiện trạng kinh tế, kỹ thuật của các hệ thống canh tác lúa trên vùng đất phèn Đồng Tháp Mười
Chủ nhiệm:
Trần Thị Hồng Thắm
Cơ quan chủ trì:
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Đồng Tháp Mười
Cấp nhiệm vụ:
1 Tỉnh
Lĩnh vực:
1 Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thời gian bắt đầu:
Thời gian kết thúc:
2008
Tóm tắt:
Trên vùng đất phèn chuyên trồng lúa ở Đồng Tháp Mười hiện có 3 hệ thống canh tác lúa, đó là: (i) lúa 2 vụ không có đê bao; (ii) lúa 3 vụ có đê bao lửng và (iii) lúa 3 vụ có đê bao kín. Kết quả điều tra kinh tế kỹ thuật của các hệ thống này cho thấy thời vụ gieo sạ ở hệ thống lúa 3 vụ có đê bao kín là khá tập trung (trong vòng 2-5 ngày), ngược lại, thời gian gieo sạ của các hệ thống lúa 3 vụ có đê bao lửng và lúa 2 vụ thường kéo dài (20-50 ngày). Giữa các hệ thống canh tác lúa 2 và 3 vụ, thời vụ gieo sạ là không đồng loạt. Đây là cầu nối để sâu bệnh truyền từ hệ thống này sang hệ thống khác và từ vụ này sang vụ khác. Lượng phân đạm và lân sử dụng trong các vụ đều khá cao (109-115 kg N và 84-91 kg P2O5/ha/vụ). Lượng phân bón cho lúa ở các vụ Hè Thu và Thu Đông có xu hướng cao hơn vụ Đông Xuân ở tất cả các hệ thống. So sánh giữa các hệ thống, hệ thống lúa 3 vụ có đê bao kín sử dụng lượng đạm và lân cao hơn so với các hệ thống lúa 2 vụ và lúa 3 vụ có đê bao lửng. Trong cả năm, canh tác lúa 3 vụ đã sử dụng một lượng thuốc trừ sâu bệnh khá cao (21,3-24,2 l/ha thuốc nước và 7,9-9,6 kg/ha thuốc bột, gần gấp đôi so với canh tác lúa 2 vụ. Mặc dù tổng chi phí cao nhưng hiệu quả kinh tế ở hệ thống lúa 3 vụ có đê bao kín là cao nhất, kế đến là hệ thống lúa 3 vụ đê lửng và thấp nhất là hệ thống lúa 2 vụ. Hệ thống canh tác lúa 3 vụ có đê bao kín đã được đánh giá là hệ thống có điều kiện sản xuất thuận lợi nhất.
Báo cáo:
119_bckh_Tran Thi Hong Tham_TTNC PTNN Dong Thap Muoi 1054 1064.doc
Báo cáo tóm tắt: